Chủ nhà trọ thu tiền điện giá 4.5 tệ/số, tôi sinh nghi kiểm tra công tơ thì phát hiện bà ta câu thẳng dây điện từ bình nóng lạnh phòng tôi sang dùng cho cả tầng.
Nhưng trước khi nói đến cái đêm phát hiện chấn động ấy, tôi phải kể rõ một chút về hoàn cảnh. Tôi là Lâm Tịch, hai mươi ba tuổi, vừa nghỉ việc ở công ty phần mềm cũ sau ba năm cày như trâu. Mang tiếng lập trình viên backend mà lương tháng mười ba nghìn tệ, trừ chi phí sinh hoạt chẳng còn dư được bao nhiêu. Tôi dọn đến dãy trọ của mụ Vương Quế Hoa ở ngõ cụt phố Văn Xương, quận cũ, nơi có hàng sấu già che kín ánh mặt trời, cũng là để tiết kiệm tiền phòng. Căn phòng 302 chỉ rộng chừng mười lăm mét vuông, lát gạch men nứt, có một cái bình nóng lạnh hiệu cũ kỹ gắn trên tường nhà vệ sinh, nhưng ít ra còn sạch sẽ hơn mấy chỗ tôi từng thuê.
Mọi chuyện bắt đầu có mùi kỳ lạ khi tháng nào tôi cũng phải trả tiền điện trên dưới tám trăm tệ, có tháng mùa hè bật điều hòa hai tiếng buổi tối, con số lên thẳng một ngàn hai. Lần đầu tiên mụ Vương đưa tờ giấy ghi tay, tôi tròn mắt: “Cháu dùng gì mà lắm điện thế cô?” Mụ ta nhìn tôi từ trên xuống dưới, cười nhạt: “Giờ cái gì cũng lên giá, điện nước hao mòn, chung một công tơ tổng, cô ở đây là biết điều rồi đấy. Không thích thì tìm chỗ khác, nhưng tiền cọc một tháng thì không trả lại đâu.” Giọng mụ ta ngọt xớt nhưng mắt thì sắc lẹm, khiến tôi cứng họng. Tôi chỉ biết im lặng đưa tiền, trong lòng uất ức nhưng nghĩ mình mới đến, không nên gây chuyện.
Nhưng rồi tháng thứ ba, khi tôi gần như không nấu nướng gì, cả ngày chỉ cắm laptop, sạc điện thoại và đun ấm nước uống, mụ Vương vẫn gõ cửa đòi chín trăm sáu mươi tệ tiền điện. Tối hôm ấy, tôi trằn trọc mãi không ngủ được, tự hỏi rốt cuộc điện đi đâu? Tôi bật đèn pin điện thoại, lần mò ra hành lang. Dãy trọ ba tầng cũ kỹ, mỗi tầng ba phòng, riêng tầng một là nhà mụ Vương và một kho chứa đồ. Tầng ba có tôi ở 302, bên cạnh là chị Tôn Mỹ (phòng 301), một công nhân xưởng may ít nói, và phòng 303 của ông Chu Quốc, một giáo viên về hưu lặng lẽ như cái bóng. Cả ba hộ dùng chung một công tơ điện tổng treo trên cầu thang, nhưng mụ Vương bảo mỗi phòng sẽ tính riêng theo đồng hồ phụ mụ tự lắp. Tôi rọi đèn vào chiếc hộp điện nhỏ đề “P.302” gắn ngay cạnh cửa phòng mình. Trên đó quả thực có một dãy số nhảy liên tục. Tôi lấy điện thoại chụp lại chỉ số: 5280. Sáng hôm sau tôi chụp tiếp: 5296, tức là một đêm chỉ bật quạt và sạc pin, vậy mà đã nhảy mười sáu số. Thật vô lý đến cực điểm.
Đêm hôm sau nữa, khoảng mười một giờ, cả dãy trọ bỗng tối om. Mất điện. Tôi nghe tiếng cằn nhằn vọng từ phòng chị Tôn, tiếng ông Chu ho khan, còn tiếng mụ Vương dưới nhà hét lên: “Đứa nào bật nhiều thiết bị quá làm nhảy aptomat rồi! Để đấy tôi lên!” Tôi vốn đang bực bội trong người, liền vớ lấy cái đèn pin đội đầu (đồ nghề cũ hồi còn làm thêm sửa máy tính) rồi mở cửa bước ra. Hành lang tối đen, chỉ có ánh đèn le lói từ mấy ô cửa sổ. Tôi đi thẳng ra chỗ cầu thang, nơi đặt hộp điện tổng. Nhưng khi tới nơi, tôi khựng lại. Trước mặt tôi, dưới ánh đèn pin, một cảnh tượng kỳ quái hiện ra: từ trong hộp aptomat tổng có gắn tên “P.302”, ngoài sợi cáp chính vào phòng tôi, còn có một sợi cáp nhỏ màu đỏ được đấu nối tinh vi, chạy dọc theo đường ống nước, cắm thẳng vào một cái hộp chia điện treo lủng lẳng ở góc tường phía bên kia. Từ cái hộp ấy, hai đường dây khác tỏa sang phòng 301 và 303.
Tôi sững người mất mấy giây. Tay run run giơ điện thoại lên quay video, vừa quay vừa nhìn thật kỹ. Sợi cáp đỏ đó xuất phát từ cầu dao của chính bình nóng lạnh phòng tôi – cái bình mà tôi hầu như không dùng đến vì để tiết kiệm. Vậy mà nó lại được câu trực tiếp sang hai phòng bên, nghĩa là mọi thiết bị họ dùng đều tính vào công tơ của tôi. Thì ra suốt ba tháng qua, tôi không chỉ trả tiền điện cho mình, mà còn gánh luôn tiền điện của cả tầng. Sống lưng tôi lạnh toát. Tôi lấy lại bình tĩnh, chụp liền mấy bức ảnh cận cảnh sợi dây, đường nối, số công tơ đang nhấp nháy, rồi lặng lẽ về phòng.
Ngồi trong bóng tối, tôi không tài nào ngủ được. Cảm giác bị lừa gạt, bị coi như con cừu non để vắt kiệt khiến ngực tôi nóng bừng. Nhưng tôi không phải tuýp người dễ kích động. Là dân công nghệ, tôi hiểu giá trị của bằng chứng. Tôi mở laptop, copy tất cả ảnh và video vào một thư mục khóa mật khẩu, đồng thời soạn sẵn một bài đăng lên mạng xã hội, nhưng chưa gửi vội. Đợi đến sáng sẽ chất vấn mụ Vương, xem mụ ta giải thích ra sao.
Bình minh đến chậm chạp, tôi bước xuống tầng một với tâm thế của người cầm chắc lý lẽ. Mụ Vương đang lui cui tưới mấy chậu hoa giấy trước sân, thấy tôi, mụ ta nhướng mày: “Sao? Lại định xin khất tiền điện hả?” Tôi hít một hơi, mở điện thoại đưa thẳng tấm ảnh chụp sợi dây câu trước mặt mụ: “Thưa cô, cô giải thích giúp cháu đây là cái gì? Tại sao điện phòng cháu lại bị câu sang phòng khác?”
Mặt mụ Vương thoáng biến sắc, nhưng chỉ trong tích tắc, mụ đã cười khẩy: “Cái dây đó là dây tiếp địa chống giật đấy, cháu thì biết gì về kỹ thuật điện mà ăn nói hàm hồ? Nhà cô cho thuê bao năm nay chưa ai dám nghi ngờ. Cháu không ở được thì dọn đồ đi cho cô nhờ, đừng có bày đặt bới móc.” Nói rồi mụ định giật lấy điện thoại tôi. Tôi nhanh tay rụt về, lùi một bước: “Dây tiếp địa mà lại cắm vào hộp chia điện và chạy sang phòng khác à? Cô tưởng cháu không biết gì sao? Cháu sẽ gọi điện lực xuống kiểm tra.”
Nghe tới hai chữ “điện lực”, mụ dừng tay, đôi mắt sắc lẹm nhìn tôi đầy vẻ đe dọa: “Được, muốn gọi thì gọi, nhưng đừng có trách cô không báo trước. Ở đây người ta sống với nhau bằng tình nghĩa, cháu đã thích ầm ĩ thì cô cũng chiều.”
Tôi trở về phòng, bấm số tổng đài điện lực thành phố. Nhưng cuộc gọi chưa kịp kết nối thì ngoài cửa đã vang lên tiếng đập rầm rầm. Vừa mở cửa, tôi đã thấy mụ Vương đứng chống nạnh, bên cạnh là hai người đàn ông. Một gã trẻ tuổi, cao lớn, tóc nhuộm vàng, tay cầm chùm chìa khóa xe máy lắc lẻo – đó là Vương Hạo, con trai mụ ta, tôi từng nghe tiếng là tay anh chị có số má trong khu. Người còn lại mặc sơ mi trắng, đeo thẻ công tác, dáng vẻ trịch thượng, chính là Lý Kiến Quốc, quản lý tổ dân phố.
Lý Kiến Quốc nhìn tôi bằng ánh mắt điềm đạm nhưng lạnh lùng: “Cô Lâm, tôi nghe bà Vương phản ánh cô tự ý cạy phá tủ điện, còn quay phim chụp ảnh gây mất an ninh. Cô biết đây là hành vi xâm phạm tài sản riêng và có thể bị xử phạt hành chính không?”
Tôi sửng sốt: “Tôi không hề phá khóa! Tự cái hộp nó hở ra lúc mất điện, tôi mới phát hiện bà ấy câu trộm điện. Đây là bằng chứng rõ ràng!” Tôi đưa điện thoại ra, nhưng Lý Kiến Quốc chỉ liếc qua, không thèm xem: “Cô Lâm, giá điện 4.5 tệ là do tổ dân phố với chủ nhà thống nhất từ lâu, đã báo cáo lên trên, trong đó bao gồm cả phí hao mòn đường dây cũ và công bảo trì. Cô tự ý kiểm tra khi chưa được sự đồng ý, lại còn đe dọa gọi điện lực, như vậy là gây rối trật tự. Cô mà chống đối, tôi buộc phải mời công an khu vực xuống lập biên bản. Mà tôi nghe nói cô đang thất nghiệp, lý lịch xin việc sau này có vết nhơ thì phiền lắm.”
Tôi cảm thấy như có một tảng đá đè lên ngực. Hắn ta biết rõ điểm yếu của tôi. Tôi vừa nghỉ việc, căn cước cư trú còn đang lằng nhằng, nếu bị ghi án “gây rối”, dù chỉ là hành chính, cũng sẽ ảnh hưởng đến cơ hội vào các công ty công nghệ lớn. Cơn giận nghẹn ứ nơi cổ họng. Vương Quế Hoa đứng sau khoanh tay, cười mỉa: “Đấy, cô thấy chưa? Người có học như cô mà không biết điều. Thôi, cô đóng tiền điện tháng này đủ thì ở tiếp, không thì biến, tiền cọc một tháng coi như phí tổn thất tinh thần cho tôi vì dám vu oan.”
Tôi không nói nổi câu nào. Chỉ có bàn tay siết chặt lấy chiếc điện thoại – thứ duy nhất còn lưu giữ bằng chứng. Cuối cùng, tôi đành cúi đầu, lí nhí: “Tôi... tôi biết rồi.” Lý Kiến Quốc gật gù, nói thêm bằng giọng ban ơn: “Cô biết sai là tốt. Giờ tôi soạn cho cô cái biên bản tự nguyện chấp nhận mức giá điện và cam kết không khiếu kiện, ký vào rồi mọi chuyện coi như xong.” Hắn móc từ cặp ra một tờ giấy đánh máy sẵn, chỉ chừa chỗ chữ ký. Tôi đọc lướt, nội dung ghi rằng tôi đồng ý trả 4.5 tệ mỗi số điện, tự chịu trách nhiệm về các thiết bị trong phòng, và sẽ không có bất kỳ khiếu nại nào về sau. Ký vào tờ giấy này, khác gì tự mua dây buộc mình? Nhưng trước cặp mắt sắc lạnh của ba con người kia, tôi hiểu mình không có lựa chọn. Run run, tôi cầm bút ký, cảm giác ngòi bút cứa vào lòng tự trọng.
Vương Hạo cầm tờ biên bản xem xong, bật cười: “Tốt, coi như em biết điều. Lần sau còn táy máy, anh không nói chuyện nhẹ nhàng thế này đâu.” Gã vung tay đấm mạnh vào tường ngay sát mặt tôi, tạo ra tiếng “bốp” khô khốc, rồi cả bọn kéo nhau xuống cầu thang. Trước khi khuất dạng, mụ Vương Quế Hoa còn ngoái lại buông một câu đầy đắc thắng: “Ở đây, tôi là trời. Ranh con, đừng có giỡn mặt.”
Cánh cửa phòng đóng sập lại. Tôi đổ gục xuống ghế, hai tai ù đi, nước mắt bắt đầu trào ra. Cảm giác bất lực và nhục nhã bóp nghẹt trái tim. Tôi chưa bao giờ nghĩ có ngày mình bị đối xử như một con kiến dưới gót giày như thế. Nhưng sau cơn tức tưởi, một sự lạnh lẽo và căm hận len lỏi trỗi dậy. Tôi nhìn chằm chằm vào màn hình điện thoại, nơi tấm ảnh chụp sợi dây câu vẫn còn nguyên đó. Không thể để mọi chuyện chìm xuống như mụ ta mong muốn. Nếu không thể dùng sức, tôi sẽ dùng trí.
Buổi chiều hôm đó, tôi ra đầu ngõ mua một chai nước, tình cờ gặp đồng chí cảnh sát khu vực đi tuần. Anh tên Lục Dương, dáng cao gầy, khuôn mặt chữ điền, khoảng hai mươi bảy tuổi. Tôi từng thấy anh vài lần ghi chép sổ tạm trú, lần nào anh cũng niềm nở chào hỏi người dân. Thấy tôi mắt đỏ hoe, anh dừng lại, hỏi thăm vài câu. Ban đầu tôi định im lặng, nhưng rồi nghĩ thế nào lại đánh liều: “Anh Lục, khu trọ của em... có vấn đề về điện, nhưng em không biết kêu ai.” Anh nhìn tôi, hạ giọng: “Chỗ này trước đây từng có người kiện rồi, nhưng sau lại im. Cô nên cẩn thận chứng cứ, đừng để mất.” Nói rồi anh nhét vào tay tôi một mảnh giấy ghi số điện thoại cá nhân, dặn nếu có chuyện khẩn cấp hãy gọi. Tôi cầm mảnh giấy, lòng ấm áp hơn một chút.
Đêm ấy, tôi không tài nào chợp mắt. Tôi nghĩ đến những lời mụ Vương nói, nghĩ đến thái độ của Lý Kiến Quốc, và cả cái dây câu chết tiệt kia. Tôi chợt nhận ra một điều: nếu bình nóng lạnh phòng tôi bị câu sang phòng khác, thì mỗi khi họ dùng, công tơ của tôi sẽ nhảy vọt. Nhưng tôi đâu có bật bình nóng lạnh của mình! Vậy mà công tơ vẫn quay. Hay là còn thứ gì đó khác nữa?
Khoảng hai giờ sáng, khi cả dãy trọ chìm vào yên lặng, tôi lặng lẽ xỏ giày, đeo đèn pin lên đầu và lần ra ngoài. Lần này tôi quyết định đi theo đường ống dẫn từ hộp điện tổng xuống phía sau vườn. Luồn qua mấy bụi chuối sau nhà, tôi phát hiện một căn nhà kho nhỏ khuất sau tán xoài, bên trong le lói ánh đèn. Cửa khóa ngoài, nhưng qua khe hở, tôi thấy bốn năm chiếc máy may mini đang hoạt động, công nhân đeo khẩu trang cúi đầu làm việc. Đây là cái xưởng may chui mà tôi từng nghe tiếng. Và kinh khủng hơn, từ hộp chia điện trên mái nhà kho, một đường dây to tướng chạy ngược trở lên, nối thẳng vào đường cáp trục từ phòng tôi. Chưa dừng lại ở đó, tôi còn thấy một người đàn ông trung niên mặc áo thợ điện đang đứng trên mái, tay cầm đồng hồ đo, tay kia chỉnh sửa một thiết bị nhỏ bên trong hộp công tơ tổng. Tôi nín thở, lấy điện thoại ra quay lại cảnh tượng ấy. Bóng đêm che giấu tôi, nhưng tim đập thình thịch đến mức tôi sợ người ta nghe thấy. Sau khi người thợ điện rời đi, tôi mới dám thở phào. Tôi đã có thêm một bằng chứng nữa, nhưng cũng hiểu ra mình đang đứng trên một quả bom. Nếu bị phát hiện lần nữa, không chỉ bị đuổi, tôi có thể gặp nguy hiểm thực sự.
Quay về phòng, tôi lấy trong balo ra một chiếc camera mini, loại dùng để quay lén khi sửa máy tính cho khách. Tôi đã cài sẵn pin dự phòng và thẻ nhớ. Rạng sáng, khi cả dãy trọ còn ngái ngủ, tôi trèo lên gác mái nhỏ phía trên trần phòng mình (nơi có lối thông hơi), đặt camera hướng thẳng ra chỗ hộp điện tổng và đường dây câu, ngụy trang bằng mấy miếng xốp. Xong xuôi, tôi trở xuống, lòng đầy hồi hộp nhưng cũng ánh lên tia hy vọng. Nếu camera ghi lại được cảnh mụ Vương hoặc Vương Hạo tiếp tục giở trò vào hệ thống điện, tôi sẽ có con bài mạnh hơn.
Trong những ngày tiếp theo, tôi tỏ ra ngoan ngoãn khác thường. Sáng nào tôi cũng gặp mụ Vương, cúi đầu chào hỏi lễ phép. Mụ ta tưởng tôi đã sợ hãi hoàn toàn, nên càng tỏ vẻ ban ơn, thậm chí có lần còn bố thí cho tôi mấy quả quýt héo. Tôi nhận, cười cảm ơn, nhưng trong lòng lạnh tanh. Mỗi tối, tôi lại lấy dữ liệu từ camera xuống, phân tích từng khung hình. Tôi còn dùng kiến thức lập trình viết một script nhỏ để phân tích chỉ số điện tiêu thụ từ ảnh chụp công tơ mỗi giờ, vẽ ra biểu đồ bất thường. Có những khung giờ khuya, khi tôi đã tắt hết thiết bị và đi ngủ, mức tiêu thụ điện phòng 302 vẫn tăng vọt như có ai bật lò sưởi. Rõ ràng, không chỉ hai phòng kia, mà cái xưởng may cũng đang rút ruột điện của tôi.
Một tối, camera ghi lại được cảnh Vương Hạo và người thợ điện hôm nọ mở hộp công tơ tổng, thì thầm to nhỏ rồi dùng tuốc-nơ-vít chỉnh lại một con vít nhỏ. Tôi phóng to hình ảnh, nhận ra họ đang can thiệp vào cơ cấu đếm số, làm cho đồng hồ chạy chậm lại khi đo lượng điện tổng, nhưng riêng đồng hồ phụ của tôi vẫn quay như thường. Đây chính là thủ đoạn trộm điện hai lớp: vừa câu điện của tôi sang nơi khác, vừa chỉnh đồng hồ tổng để qua mặt nhà đèn. Như vậy, mụ Vương không chỉ bòn rút tiền của khách trọ, mà còn trục lợi từ chính lưới điện quốc gia. Tôi cất kỹ đoạn video, lòng thầm nhủ: “Bà bảo bà là trời ư? Trời rồi cũng có ngày sập.”
Sự uất ức trong tôi lúc này đã chuyển hóa thành một quyết tâm sắt đá. Tôi biết một mình không thể đấu lại cả một hệ thống nhỏ gồm chủ trọ, quản lý khu phố và tay côn đồ. Nhưng tôi có thể biến sự thật thành vũ khí. Bước tiếp theo, tôi cần đồng minh. Và tôi bắt đầu để ý đến chị Tôn Mỹ – người phụ nữ công nhân may mắn có khuôn mặt lúc nào cũng cúi gằm vì mệt nhọc, và ông Chu Quốc – ông lão ít nói nhưng mắt luôn ánh lên vẻ u uất mỗi khi nhìn tờ hóa đơn điện. Liệu họ có cùng cảnh ngộ như tôi? Tôi sẽ tìm cách tiếp cận họ, như một con cờ đầu tiên trên ván cờ phản kích mà tôi đang sắp đặt.
Đêm đó, khi tôi đứng tựa cửa sổ nhìn ra ngọn đèn đường cũ kỹ chớp nháy như sắp tắt, tôi tự hứa với lòng mình: tôi sẽ không rời khỏi nơi này cho đến khi mụ Vương Quế Hoa phải trả giá cho từng lời mụ ta đã nói. Và công lý, dù có đến muộn, cũng phải được thắp lên, như ngọn đèn đường kia, sau cơn chập chờn sẽ bừng sáng trở lại.
Sau đêm phát hiện ra xưởng may chui và màn phù phép đồng hồ điện của Vương Hạo, tôi gần như không chợp mắt nổi. Càng nghĩ tôi càng thấy lạnh sống lưng. Hóa ra thứ mụ Vương Quế Hoa bòn rút không chỉ là vài đồng bạc lẻ từ đám khách trọ nghèo như tôi, mà còn là cả một đường dây trục lợi điện có hệ thống, có kẻ tiếp tay và có cả sự nhắm mắt làm ngơ của kẻ có chức phận. Nếu chỉ dựa vào mấy tấm ảnh và video trong tay, tôi e rằng chưa đủ để nghiền nát được cái “bầu trời” mà mụ ta vẫn hống hách tuyên bố. Tôi cần phải có đồng minh, cần phải biến những con người vẫn đang câm lặng chịu đựng thành một khối thống nhất. Chỉ khi nhiều tiếng nói cùng cất lên, sự thật mới không thể bị bóp nghẹt.
Người đầu tiên tôi nghĩ đến là chị Tôn Mỹ ở phòng 301. Chị khoảng ba mươi lăm tuổi, dáng người gầy guộc, nước da ngăm đen vì quanh năm bán mạng trong xưởng may. Những lần chạm mặt ở hành lang, chị chỉ khẽ gật đầu rồi lại cúi mặt đi vội, như sợ ánh sáng ban ngày làm tổn thương đôi mắt đã quen với bóng tối. Nhưng tôi từng thoáng thấy chị đứng lặng rất lâu trước hộp công tơ phòng mình, tay mân mê tờ hóa đơn tiền điện với vẻ mặt đầy sầu não. Tôi đoán chị cũng đang è cổ gánh những con số phi lý không kém gì tôi.
Một buổi chiều, nhân lúc mụ Vương ra đầu ngõ giao mấy túi hoa quả cho ai đó, tôi gõ cửa phòng chị Tôn. Chị hé cửa, đôi mắt đầy cảnh giác nhìn tôi. Tôi mỉm cười thân thiện, hạ giọng: “Chị Tôn, em là Lâm Tịch ở phòng 302. Mấy bữa nay em thấy chị hay thở dài lúc nhìn hóa đơn điện. Em có chút chuyện muốn bàn, mình vào trong nói được không ạ?” Chị Tôn ngập ngừng một lúc, rồi cũng đẩy cửa cho tôi vào.
Căn phòng 301 còn chật hẹp hơn phòng tôi, đồ đạc tuềnh toàng. Trên chiếc bàn nhựa ọp ẹp, tôi nhìn thấy một tập hóa đơn tiền điện được vuốt phẳng phiu, bên cạnh là cuốn sổ ghi chép thu chi tỉ mỉ. Tôi chỉ vào tập hóa đơn, nhẹ nhàng hỏi: “Chị tháng nào cũng cắn răng trả trên dưới bảy trăm tệ tiền điện sao?” Chị Tôn giật mình nhìn tôi, rồi như vỡ òa, giọng nghèn nghẹn: “Cô… cô cũng vậy à? Tôi ở đây hai năm, làm công nhân may lương tháng ba bốn ngàn tệ, vậy mà tiền điện cứ ngốn đứt gần một phần tư. Tôi cứ tưởng tại mình dùng hoang, nhưng rõ ràng cả ngày đi làm, tối về chỉ bật đèn và quạt, sao mà cắt cổ thế được.” Nói đến đây, mắt chị đỏ hoe.
Tôi kéo ghế ngồi xuống, mở điện thoại chìa tấm hình chụp sợi dây câu điện từ phòng tôi ra. Tôi giải thích cặn kẽ cho chị Tôn nghe về sợi cáp đỏ, về cái hộp chia điện lủng lẳng ngoài hành lang, về việc bình nóng lạnh phòng tôi bị câu trộm sang phòng chị và phòng ông Chu. Chị Tôn nghe xong, mặt tái mét đi, hai bàn tay nắm chặt lấy mép bàn: “Thì ra… thì ra bà ta hút máu mình! Vậy mà lần nào tôi hỏi, bà ta cũng nói điện nhà nước lên giá, rồi dọa nếu không trả thì dọn đi. Cô Lâm à, tôi không dám cãi, vì tôi sợ mất chỗ thuê. Kiếm được căn phòng rẻ, gần xưởng may khó lắm.” Tôi nắm lấy tay chị, trấn an: “Chị đừng sợ. Một mình mình thì yếu, nhưng nếu nhiều người cùng đứng lên, mụ ta sẽ hết đường chối cãi. Em đã nắm thóp mụ ta, nhưng cần thêm người làm chứng. Chị có dám cùng em lật mặt mụ ta không?”
Chị Tôn im lặng một lúc lâu. Tôi thấy rõ sự giằng xé trong đôi mắt chị. Cuối cùng, chị ngước lên, ánh mắt lóe lên tia quyết tâm của kẻ bị dồn đến đường cùng: “Được. Tôi nghe cô. Nhưng phải làm sao cho kín kẽ, tôi còn có con nhỏ ở quê.”
Sau chị Tôn, tôi tìm đến ông Chu Quốc ở phòng 303. Ông Chu đã ngoài sáu mươi, là giáo viên dạy Vật lý về hưu, sống một mình trong căn phòng lúc nào cũng gọn gàng nhưng hiu quạnh. Tiếng là người có học, nhưng có lẽ vì tuổi già sợ phiền phức, ông cũng chưa từng lên tiếng. Tôi đến gặp ông vào một buổi sáng sớm, khi ông đang tưới mấy chậu cây cảnh nhỏ xíu ngoài lan can. Tôi không vòng vo, đi thẳng vào vấn đề: “Thưa ông, cháu phát hiện mụ Vương câu trộm điện từ phòng cháu sang phòng ông. Ông có thấy hóa đơn tiền điện của mình có mùi không ạ?”
Ông Chu từ tốn đặt bình tưới xuống, lau tay vào chiếc khăn cũ, rồi thở dài: “Cô Lâm à, tôi biết chứ. Tôi dạy vật lý mấy chục năm, nhìn cái đồng hồ quay là tôi đi guốc trong bụng mụ ta rồi. Nhưng tôi già rồi, chẳng muốn đôi co với hạng tiểu nhân ấy. Vả lại, mụ Vương có chống lưng là Lý Kiến Quốc, tôi đắc tội làm gì.” Tôi tiến lại gần, nhỏ giọng: “Thưa ông, nhưng cháu có bằng chứng không chỉ việc câu điện, mà còn cả trò bùa phép đồng hồ tổng để rút ruột lưới điện quốc gia. Nếu mình im lặng, không chỉ thiệt thân mình, mà còn tiếp tay cho cái ác. Cháu định tố giác lên Sở Điện lực, nhưng cháu cần một người am hiểu về điện để thẩm định kỹ thuật. Ông có thể giúp cháu không?”
Đôi mắt mờ đục của ông Chu chợt ánh lên một tia sắc lẹm. Có lẽ khí chất của một nhà giáo già vẫn còn âm ỉ trong lồng ngực ông. Ông im lặng nhìn tôi một lúc, rồi gật đầu: “Cô là con gái còn dám vạch mặt chỉ tên, lẽ nào cái thân già này lại rụt cổ. Được, tôi sẽ giúp cô. Tôi có quen một nữ phóng viên mảng điều tra của báo thành phố, tên là Diệp Tử. Con bé ấy dám viết, dám phanh phui, để tôi liên hệ.”
Vậy là chỉ trong hai ngày, chúng tôi đã hình thành một liên minh nhỏ. Ba con người ở ba căn phòng chật hẹp, dưới cùng một mái nhà bị che bởi bàn tay nhám nhúa của Vương Quế Hoa, nay đã ngầm nắm chặt tay nhau. Tôi lập một nhóm chat mã hóa trên một ứng dụng bảo mật, đặt tên là “Cúp Cầu Dao” – ngầm ám chỉ đòn chí mạng sẽ ngắt đứt đường sống của mụ chủ trọ. Trong nhóm, tôi phân công rõ ràng: Tôi phụ trách kỹ thuật, theo dõi camera, chốt số liệu và làm “mồi nhử”; chị Tôn sẽ lôi kéo thêm một vài công nhân ở xưởng may chui phía sau vườn (những người cũng bị mụ Vương bóc lột sức lao động với giá rẻ mạt) làm nhân chứng về đường dây điện từ xưởng câu lên phòng tôi; ông Chu sẽ là cố vấn chuyên môn, viết báo cáo kỹ thuật vạch trần sự phi lý của hệ thống điện, đồng thời bí mật hẹn gặp phóng viên Diệp Tử để tuồn thông tin ban đầu.
Nhưng mọi chuyện không hề suôn sẻ. Vương Hạo, con trai mụ Vương, là một tay lưu manh cộm cán. Gã thuộc diện “ngứa mắt là động thủ”, đi đâu cũng kè kè đám đàn em cô hồn. Từ sau vụ tôi phát hiện đường dây câu điện, dù bề ngoài tỏ ra khuất phục, nhưng hắn vẫn giữ thói quen cho người đeo bám. Có lần, tôi về phòng muộn, thấy một gã thanh niên lạ mặt ngồi ở quán trà đầu ngõ, mắt dán chặt vào cổng dãy trọ. Lần khác, tôi phát hiện một chiếc xe máy dựng sát tường sau nhà, nơi có lối mòn dẫn ra xưởng may. Linh tính của một người đang sống trong hang hùm mách bảo tôi rằng bọn chúng đang giám sát nhất cử nhất động của tôi.
Quả nhiên, một buổi tối, khi tôi vừa từ ngoài về, Vương Hạo đã lù lù chặn ngay ở cầu thang. Hắn nhả khói thuốc vào mặt tôi, cười đểu: “Dạo này em chăm chỉ ra ngoài nhỉ. Nghe nói em hỏi thăm mấy cái về điện đóm? Có cần anh nhờ thợ sang sửa giúp không?” Tôi cố giữ bình tĩnh, nhún vai: “Dạ không ạ, em chỉ tò mò thôi. Mấy hôm nay em đang tìm việc mới, đi phỏng vấn suốt nên mới về muộn.” Hắn “ồ” lên một tiếng đầy vẻ giễu cợt, rồi vỗ vai tôi mạnh đến mức tôi suýt khuỵu xuống: “Tốt, lo kiếm tiền mà cống nạp đầy đủ vào. Đừng có táy máy, kẻo rước họa vào thân.”
Tôi biết hắn đã bắt đầu nghi ngờ. Nếu không nhanh chóng hành động, tôi sẽ làm mồi cho cá. Nhưng thay vì hoảng sợ, tôi quyết định tương kế tựu kế, biến sự nghi ngờ của hắn thành một phần trong kế hoạch. Trong một lần trò chuyện với ông Chu và chị Tôn, tôi bàn ra ý tưởng “ve sầu thoát xác”: Tôi sẽ cố ý tung hỏa mù, để lộ ra một chứng cứ giả, đánh lừa mẹ con Vương Hạo rằng tôi chỉ đang cố “ăn vạ” ngược để trốn tiền điện, khiến chúng đắc ý, lơ là cảnh giác. Khi ấy, đòn kết liễu mới thực sự được tung ra từ nhiều phía.
Tôi chuẩn bị một chiếc USB cũ, trong đó tôi copy một số tài liệu ngụy tạo: một bài viết nhảm nhí trên mạng về cách ăn cắp điện, vài tấm hình mờ căm không rõ nội dung, và một file ghi âm giọng tôi tự nói một mình với nội dung: “Mình phải nghĩ cách dựng hiện trường giả để ép bà Vương giảm tiền nhà…” Tất cả được ngụy trang dưới vỏ bọc một kế hoạch “trả đũa vặt vãnh” của tôi. Sau đó, tôi cố tình để chiếc USB này trong túi áo khoác treo ở hành lang chung, nơi tôi biết Vương Hạo thường đứng hút thuốc.
Đúng như dự đoán, chỉ một ngày sau, khi tôi ra ngoài, Vương Hạo đã mắc bẫy lẻn vào phòng tôi (tôi biết qua camera giấu kín). Hắn lục tung đống đồ đạc, nhưng thứ duy nhất hắn chôm được chính là chiếc USB mồi nhử ấy. Tối hôm đó, từ tầng một, tôi nghe thấy tiếng cười khinh khỉnh của mụ Vương vọng ra. Sáng hôm sau, mụ chặn tôi ở sân, giọng chua ngoa mỉa mai: “Cô Lâm, cô có muốn chuyển xuống phòng rộng hơn không? Hay vẫn thích ở trên đó mà nặn óc nghĩ mấy trò tiểu nhân?” Tôi giả vờ run rẩy, ấp úng: “Dạ… dạ cháu ở trên quen rồi ạ.” Ả ta cười the thé: “Ở quen rồi à? Phải rồi, ở quen rồi thì biết thân biết phận, chứ đừng có diễn trò ‘dựng hiện trường giả’ như trong phim, coi chừng gậy ông đập lưng ông đấy ranh con.”
Tôi cúi gằm mặt, diễn nét sợ hãi tột độ, nhưng trong lòng cười khẩy. Cú lừa đã thành công. Mẹ con mụ Vương giờ đây tin sái cổ rằng tôi chỉ là một con ranh vắt mũi chưa sạch, ngoài mấy trò mèo cào vụng về thì chẳng làm nên trò trống gì. Sự ngạo mạn của chúng chính là bức bình phong hoàn hảo cho cơn bão mà chúng tôi đang ráo riết chuẩn bị phía sau.
Trong lúc đó, ông Chu đã bí mật gặp gỡ phóng viên Diệp Tử. Chị khoảng hai mươi chín tuổi, tác phong nhanh nhẹn, mái tóc ngắn ôm lấy khuôn mặt sắc sảo. Buổi gặp diễn ra tại một quán trà vắng ở ngoại ô, tránh xa khu phố Văn Xương. Tôi và ông Chu cùng đến. Trước mặt Diệp Tử, tôi trình bày toàn bộ sự việc, bày ra mọi bằng chứng: ảnh chụp, video Vương Hạo ma giáo tủ điện, cùng bản đối chiếu số liệu. Diệp Tử chăm chú xem, đôi lông mày nhíu chặt. Khi tôi chiếu đoạn video cận cảnh bàn tay Vương Hạo đang vặn con vít bên trong hộp công tơ tổng, chị gõ mạnh ngón tay xuống bàn: “Dính trấu rồi. Đây là hành vi trộm cắp điện quy mô lớn, lại còn có mùi bảo kê của cán bộ phường. Tòa soạn sẽ vào cuộc. Nhưng tôi cần thêm thời gian để xác minh chéo và ghi hình mật, tránh bứt dây động rừng.”
Tôi và ông Chu gật đầu. Diệp Tử còn dặn dò chúng tôi tuyệt đối án binh bất động cho đến khi bài báo được tung ra. Chị sẽ phái người bí mật cắm chốt bên ngoài xưởng may, đồng thời làm việc với đường dây nóng của Sở Điện lực để chốt lịch thanh tra đột xuất. Trận đánh lớn đã cận kề.
Song song với việc liên hệ báo chí, tôi cũng đã đóng gói một bộ hồ sơ tố giác sắc lẹm gửi bảo đảm lên Sở Điện lực thành phố (để tránh bị ngâm nếu gửi trực tuyến). Hồ sơ bao gồm báo cáo kỹ thuật bén ngót do ông Chu viết, sơ đồ câu móc điện, ảnh bằng chứng và file dữ liệu. Tôi rào trước trong đơn rằng báo chí đã đánh hơi thấy vụ này và sẵn sàng lên trang nhất nếu cơ quan chức năng làm ngơ, tạo thế kẹp chả ép họ phải xuống tay.
Phía chị Tôn cũng đại công cáo thành. Chị đã thuyết phục được hai nữ công nhân làm cùng xưởng may chui, những người cũng bị mụ Vương trả lương bèo bọt. Họ đồng ý làm nhân chứng về việc xưởng may xài chùa điện từ phòng tôi để chạy máy. Đắt giá nhất là đoạn ghi âm lén cảnh mụ Vương rít lên quát thợ: “Chúng mày làm nhanh tay lên, điện tao câu chùa từ trên kia xuống xài xả láng, đứa nào ỉ ôi tao đuổi thẳng cổ.” Đoạn ghi âm ấy là cú chốt hạ treo cổ ả ta bằng tội trộm cắp và bóc lột.
Bàn cờ đã dàn xong. Tôi chính là người cầm trịch, từng nước đi đều kín kẽ. Nhưng trong lòng tôi vẫn gờn gợn: Vương Hạo là một kẻ hung hãn liều lĩnh. Nếu bị dồn vào đường cùng, hắn sẽ cắn bậy. Camera gác mái từng quay cảnh hắn vác cây gậy bóng chày kim loại đập ầm ầm lên lan can nắn gân người khác. Tôi cần một đòn khóa tay cuối cùng để tống cổ hắn vào trạm giam.
Tôi quyết định kích tướng để lấy bằng chứng uy hiếp. Một buổi tối, tôi cố tình đứng ở hành lang, giả vờ buôn điện thoại oang oang: “…Vâng, hồ sơ tố cáo trộm điện em gửi hỏa tốc rồi, chỉ chờ các anh trên Sở giáng xuống thôi…” Tôi cố tình để Vương Hạo dưới sân nghe rõ mồn một. Quả nhiên, chưa đầy mười phút, hắn lao lên như một con thú điên, tay lăm lăm cây gậy kim loại, mặt đỏ gay: “Con ranh! Mày sủa cái gì? Mày dám đâm lén tao? Đưa điện thoại đây!” Tôi giả vờ rú lên lùi vào góc tường, nhưng kỳ thực, chiếc camera ngụy trang trong lọ hoa khô đã bắt trọn góc mặt hắn. Hắn quật gậy vào tường sát rạt gáy tôi, vữa bay lả tả: “Tao cảnh cáo mày, hé răng ra tao gõ nát xương. Ở cái đất này, mẹ con tao là luật.” Đoạn video nét căng ghi đủ mặt, hung khí, lời dọa dẫm, điểm xuyết thêm tiếng mụ Vương chõ lên: “Hạo, dọa thôi, đừng để lại sẹo.” Lá bùa hộ mệnh của tôi đây rồi.
Khi hắn hậm hực bỏ đi, tôi ngồi phịch xuống đất, chân tay nhũn ra vì dư chấn. Nhưng mở điện thoại check file video, tôi cười gằn. Bằng chứng rành rành tội đe dọa uy hiếp tinh thần, đủ tiễn hắn đi bóc lịch mà chẳng cần đợi vụ điện.
Đêm đó, tôi gom tất cả: ảnh dây câu, video phá công tơ, ghi âm bóc lột, báo cáo kỹ thuật, và đoạn video kẻ lưu manh cầm gậy… nhét vào một folder nén đặt tên “Bầu Trời Sụp Đổ”. Một bản được ném lên Cloud cho phóng viên Diệp Tử, bản thứ hai gửi thẳng vào email đồng chí cảnh sát Lục Dương.
Sáng mai, thanh tra Sở Điện lực sẽ ập xuống. Phóng viên Diệp Tử cùng máy quay truyền hình cũng sẽ bủa lưới. Tôi đã chốt hạ “Chiến Dịch Cúp Cầu Dao” – ngày mà cái bầu trời mục nát của mẹ con Vương Quế Hoa bị xé toạc. Tựa đầu vào cửa sổ, nhìn ngọn đèn đường đang hắt thứ ánh sáng vàng vọt, tôi nhếch mép: “Trời sập đến nơi rồi, mụ Vương ạ.”
Và tôi biết, khi trời sập, kẻ đầu tiên bị đè bẹp dí chính là những kẻ hoang tưởng tự xưng mình là trời. Những người bị chà đạp như tôi, chị Tôn, ông Chu sẽ giẫm lên đống gạch vụn ấy mà ngẩng cao đầu. Còn mụ ta, sẽ phải quỳ xuống mà liếm láp từng mảnh vỡ của lòng tham vô đáy. Cái kết mãn nhãn ấy sẽ giáng một cú vả nổ đom đóm mắt vào những kẻ cậy thế ức hiếp người khác. Và Lâm Tịch tôi, chính là người giáng cú tát đó.
Ngày thứ bảy hôm ấy, nắng sớm chiếu xiên qua tán sấu già trước ngõ Văn Xương, nhuộm vàng cả khoảng sân gạch nứt của dãy trọ. Không khí tưởng chừng như yên bình, nhưng với tôi, từng phút giây trôi qua đều nặng như chì. Tôi đã thức trắng đêm, rà soát đi rà soát lại từng chứng cứ một lần cuối cùng, lòng vừa hồi hộp vừa rạo rực một niềm mong đợi khó tả. Hôm nay chính là ngày mà cái “bầu trời” của mụ Vương Quế Hoa sẽ chính thức sụp đổ.
Khoảng tám giờ sáng, mụ Vương dọn cái bàn nhựa ra giữa sân, bày sổ sách, hóa đơn, và một hộp tiền lẻ để chuẩn bị vơ vét tiền điện tháng mới. Đây là cảnh tượng bóc lột quen thuộc diễn ra đều đặn vào ngày mùng năm mỗi tháng. Từng người thuê trọ lục tục kéo xuống, mặt mày ủ rũ, tay cầm sẵn xấp tiền nhàu nhĩ. Chị Tôn Mỹ đứng nép ở góc cầu thang, mắt nhìn tôi dò hỏi. Tôi khẽ gật đầu, ra hiệu cho chị cứ bình tĩnh. Ông Chu Quốc thì ngồi trên chiếc ghế đẩu trước cửa phòng mình, tay phe phẩy chiếc quạt nan, nhưng ánh mắt già nua vẫn sắc lẹm hướng về phía cổng ngõ.
Mụ Vương hắng giọng, cất giọng the thé chua ngoa: “Các hộ lưu ý, hôm nay đến hạn đóng tiền điện tháng trước. Ai chậm là tôi tính lãi đấy nhé. Phòng 301 đâu? Cô Tôn, xuống lẹ lên chứ!”
Đúng lúc chị Tôn đang lưỡng lự bước xuống, thì từ ngoài ngõ, tiếng còi xe ô tô vang lên. Một chiếc xe bán tải màu trắng có in logo của Sở Điện lực thành phố từ từ tiến vào, theo sau là một chiếc xe tuần tra của công an khu vực. Chưa dừng lại ở đó, một chiếc xe tác nghiệp của đài truyền hình cũng áp sát, trên thùng xe, một phóng viên mặc áo khoác ghi lê đang cùng người quay phim nhảy xuống. Người phóng viên ấy chính là Diệp Tử. Chị mặc một chiếc sơ mi trắng giản dị, tay cầm micro, ánh mắt sắc bén lướt nhanh qua khung cảnh dãy trọ rồi dừng lại ở tôi. Chúng tôi trao nhau một cái nhìn ngầm hiểu.
Mụ Vương Quế Hoa ngẩng phắt đầu lên khỏi cuốn sổ, mặt thoáng chút bối rối. Nhưng rồi với bản lĩnh của một kẻ lưu manh từng trải, mụ ta lập tức trấn tĩnh, đứng phắt dậy, hai tay chống nạnh: “Ơ kìa, các ông các bà tìm ai mà vào đây? Đây là nhà dân, có việc gì thì phải báo trước chứ!”
Người đàn ông trung niên mặc đồng phục ngành điện, trên ngực áo có thẻ tên “Trương Vĩ – Đội trưởng Đội Thanh tra”, bước lên trước, giọng điềm tĩnh nhưng đầy uy lực: “Bà là Vương Quế Hoa, chủ dãy trọ này phải không? Chúng tôi nhận được đơn tố giác kèm bằng chứng về hành vi câu trộm điện quy mô lớn, can thiệp trái phép vào thiết bị đo đếm và trục lợi tiền điện bất hợp pháp. Đề nghị bà phối hợp để chúng tôi phong tỏa và kiểm tra hiện trường.”
Mặt mụ Vương tái mét đi như tàu lá chuối. Mụ lắp bắp: “Không… không có! Ai vu khống tôi? Có phải con ranh ở phòng 302 không? Nó định cắn trộm tôi đấy, các ông đừng tin!” Mụ quay ngoắt về phía tôi, chỉ tay run lẩy bẩy: “Mày! Mày dám…”
Tôi bước ra khỏi chỗ nấp sau cầu thang, khuôn mặt bình thản đến lạ. Trong tay tôi cầm một tập tài liệu dày cộp. Tôi nhìn thẳng vào mắt mụ ta, giọng rành rọt từng chữ: “Thưa bà Vương, không ai vu khống bà cả. Chính tôi là người đã gửi đơn tố giác. Và tôi có đầy đủ bằng chứng thép để chứng minh những gì mình nói.” Tôi quay sang đội trưởng Trương Vĩ và những người đang có mặt, nói tiếp: “Thưa các anh, tôi là Lâm Tịch, người thuê phòng 302. Suốt ba tháng qua, tôi đã ghi chép và quay phim lại toàn bộ hệ thống điện ma giáo tại đây. Cụ thể, bà Vương đã câu một đường dây điện từ bình nóng lạnh phòng tôi sang hộp chia điện chung, để điện tiêu thụ của phòng 301, 303 và cả một xưởng may chui phía sau vườn đều được đổ dồn vào công tơ phòng tôi. Mụ ta còn cho người phù phép đồng hồ tổng để qua mặt ngành điện. Tất cả đều có video, hình ảnh và số liệu phân tích rõ như ban ngày.”
Không khí như đông cứng lại. Chị Tôn đứng bật dậy, giọng run run nhưng kiên quyết: “Tôi là Tôn Mỹ, phòng 301. Tôi xác nhận lời cô Lâm. Tháng nào tôi cũng bị thu tiền điện gấp ba lần bình thường, và tôi đã thấy tận mắt sợi dây câu điện mà cô ấy phát hiện. Tôi sẵn sàng làm chứng!” Ông Chu Quốc cũng chậm rãi bước xuống, tay cầm bản báo cáo kỹ thuật: “Tôi là Chu Quốc, giáo viên vật lý về hưu, ở phòng 303. Tôi đã kiểm tra và khẳng định sơ đồ điện ở đây vi phạm nghiêm trọng quy chuẩn kỹ thuật. Đây là báo cáo thẩm định chi tiết của tôi.”
Đội trưởng Trương Vĩ nhận lấy tập tài liệu từ tay tôi, lật nhanh vài trang, sắc mặt càng lúc càng nghiêm trọng. Ông ta quay sang nhóm nhân viên kỹ thuật đi cùng, ra lệnh: “Kiểm tra ngay hộp điện tổng và toàn bộ đường dây trong khu vực!”
Mụ Vương lúc này bắt đầu run lẩy bẩy. Mụ lao đến túm lấy tay đội trưởng Trương, giọng chuyển từ hung hăng sang van vỉ: “Đội trưởng, anh nghe tôi giải thích đã… là do thằng thợ điện nó làm bậy, tôi không biết gì hết… Mấy đứa kia nó thông đồng hãm hại tôi…” Nhưng Trương Vĩ dứt khoát gạt tay mụ ra, lạnh lùng: “Bà giữ trật tự. Có tội hay không thì kết quả kiểm tra sẽ rõ.”
Đúng lúc ấy, Vương Hạo từ ngoài ngõ phóng xe máy vào, mặt hầm hầm sát khí. Hắn vừa nhảy xuống đã thấy cảnh tượng đông nghịt người, liền hung hăng xông tới: “Khốn kiếp, tụi mày làm gì ở đây? Ai cho phép tụi mày vào nhà tao lục lọi?” Hắn rút từ trong cốp xe ra cây gậy bóng chày quen thuộc, vung lên định động thủ. Nhưng chưa kịp bước đến gần, anh Lục Dương và một đồng nghiệp công an đã nhanh chóng áp sát, khống chế. Lục Dương quát lớn: “Vương Hạo, bỏ gậy xuống! Anh đang cản trở người thi hành công vụ đấy!” Hắn giật mình, lùi lại một bước, nhưng mắt vẫn trợn trừng nhìn tôi như muốn ăn tươi nuốt sống.
Tôi không hề chùn bước. Tôi rút điện thoại, mở đoạn video ghi lại cảnh hắn vung gậy đe dọa tôi tối hôm trước, đưa cho Lục Dương xem ngay trước mặt mọi người: “Thưa anh, đây là bằng chứng Vương Hạo đã dùng vũ lực uy hiếp tôi. Hắn ta còn nhiều lần cho người giám sát, khủng bố tinh thần tôi và những người thuê trọ khác.” Đoạn video phát ra âm thanh rõ mồn một tiếng gậy đập vào tường, tiếng hắn gầm gừ: “Tao cảnh cáo mày… tao cho mày nằm viện…” và cả tiếng mụ Vương dưới nhà vọng lên: “Hạo, dọa nó vừa vừa thôi, đừng để lại sẹo.”
Lục Dương thu điện thoại của tôi làm bằng chứng, rồi cùng đồng nghiệp bẻ ngoặt tay, còng số tám Vương Hạo. Hắn vùng vẫy, lớn tiếng chửi bới, nhưng trước đông đảo nhân chứng và bằng chứng thép không thể chối cãi, hắn đành rũ rượi cúi đầu. Tôi thấy rõ ánh mắt căm hận của hắn, nhưng lần này, tôi không còn nửa điểm sợ hãi nữa. Sự thật đã phơi bày, và tôi đang đứng dưới ánh sáng.
Cùng lúc đó, nhóm kỹ thuật viên của Sở Điện lực đã phá dỡ được hộp điện tổng. Một kỹ thuật viên reo lên: “Đội trưởng, đúng như báo cáo! Có một đường dây câu trộm tinh vi từ aptomat phòng 302 sang hộp chia điện chung. Đồng hồ tổng cũng có dấu hiệu bị can thiệp cơ khí, con vít chỉnh đã bị vặn lệch so với niêm phong gốc.” Người kỹ thuật viên thứ hai từ phía sau vườn chạy lên, hô lớn: “Phía sau có một xưởng may chui, toàn bộ máy móc đang xài chùa điện được câu từ đường dây lên phòng 302. Chúng tôi đã ghi hình và niêm phong!”
Mụ Vương Quế Hoa sụp hẳn xuống chiếc ghế nhựa, hai tay ôm mặt. Mụ ta không ngờ rằng mọi góc khuất dơ bẩn trong “đế chế” nhỏ bé của mình lại bị lôi ra ánh sáng một cách tàn nhẫn và trí mạng đến vậy. Nhưng cú tát chưa dừng lại ở đó. Tôi bước lại gần mụ, rút từ trong tập tài liệu ra một bản sao của tờ “biên bản tự nguyện” mà tôi từng bị ép ký. Tôi giơ cao trước mặt mọi người, rồi lật mặt sau của nó ra. Mặt sau tờ giấy chi chít những dòng chữ tay của tôi, ghi lại tỉ mỉ từng lần mụ ta nhũng nhiễu, từng câu nói ngạo mạn, từng lần mụ vơ vét tiền của tôi và những người khác. Tôi dõng dạc, giọng đanh thép: “Thưa các anh, thưa chị Diệp Tử, đây là ‘biên bản tự nguyện’ mà quản lý khu phố Lý Kiến Quốc đã ép tôi ký để bảo kê cho hành vi trục lợi của bà Vương. Tôi ký vào đó để bảo toàn chứng cứ, chứ không phải để chịu khuất phục. Và đây, mặt sau là nhật ký đòi quyền lợi của tôi về tất cả những bất công mà chúng tôi đã phải cắn răng chịu đựng.”
Ống kính của Diệp Tử lập tức hướng cận cảnh vào tờ giấy hai mặt ấy. Chị đưa micro về phía tôi, hỏi: “Chị Lâm, chị có điều gì muốn nói với những người cũng đang bị chèn ép như chị không?” Tôi nhìn thẳng vào ống kính, mỉm cười tự tin: “Tôi chỉ muốn nói rằng, sự thật không bao giờ bị chôn vùi mãi mãi. Nếu bạn đang bị chà đạp, hãy âm thầm thu thập bằng chứng, tìm kiếm đồng minh và chọn đúng thời điểm để phản kích. Công lý có thể đến muộn, nhưng chắc chắn sẽ không vắng mặt.”
Ngay sau đó, đại diện Sở Điện lực tuyên bố kết luận sơ bộ: hành vi của bà Vương Quế Hoa cấu thành tội trộm cắp điện theo Điều 26 Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, với số tiền trục lợi ước tính lên tới hơn năm vạn tệ mỗi năm. Mức phạt hành chính sẽ được ấn định sau khi có kết quả giám định đầy đủ, nhưng dự kiến không dưới ba vạn tệ, đồng thời buộc bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các hộ dân bị hút máu. Toàn bộ hệ thống điện sẽ bị cắt để cải tạo lại theo đúng quy chuẩn.
Vương Hạo bị công an áp giải về đồn vì hành vi cố ý gây thương tích và đe dọa uy hiếp người khác. Trước khi bị tống lên xe, hắn còn ngoái lại nhìn tôi với ánh mắt nảy lửa, nhưng tôi thừa biết lần này hắn sẽ phải mọt gông trả giá cho những gì mình đã gây ra.
Và lão Lý Kiến Quốc, kẻ quản lý khu phố vẫn thường “làm luật” cho cả khu, cũng đừng hòng thoát tội. Diệp Tử đã kịp thời liên hệ với Ủy ban nhân dân phường, tung ra bằng chứng về việc lão ta bao che, nhận hối lộ và móc ngoặc với mụ Vương để trục lợi. Chỉ vài giờ sau, một cán bộ phường đã xuống tận nơi, công bố lệnh tạm đình chỉ công tác để phục vụ điều tra. Khuôn mặt đạo mạo thường ngày của lão ta giờ tái mét, cắt không còn một giọt máu.
Giữa khung cảnh hỗn độn ấy, mụ Vương Quế Hoa bỗng bật khóc nức nở, quỳ sụp xuống trước mặt tôi và mấy người thuê trọ. Mụ ta chắp tay vái lấy vái để: “Cô Lâm… cô tha cho tôi… tôi đền gấp đôi tiền cho các cô, các ông… xin đừng để họ bắt thằng Hạo…” Những giọt nước mắt ấy có thể là thật, nhưng tôi không còn mảy may thương xót. Tôi nhìn mụ ta, lạnh nhạt nói, từng từ như những nhát dao lăng trì vào lòng tự tôn đã từng cao ngạo của mụ: “Bà Vương, bà từng khoe khoang, ở đây bà là trời. Nhưng bà biết không, trời sập thì cũng nát thây thôi. Và hôm nay, chính bà là người đã tự đào mồ chôn mình bằng lòng tham không đáy và sự độc ác. Tôi không thèm mấy đồng tiền bẩn của bà, tôi chỉ cần bà nếm trải cảm giác bị nhấn chìm là như thế nào.”
Mụ ta gục hẳn xuống, câm nín không nặn ra được thêm lời nào. Chị Tôn đứng bên cạnh tôi, khóc òa lên vì sung sướng. Ông Chu lặng lẽ tháo cặp kính, lau khóe mắt đỏ hoe. Những người công nhân xưởng may do chị Tôn dẫn ra cũng đứng vây quanh, trên gương mặt khắc khổ của họ là niềm hả hê và nhẹ nhõm chưa từng có.
Một tuần sau đó, dãy trọ số 17 ngõ Văn Xương trải qua một cuộc “đại phẫu” thực sự. Hệ thống điện cũ kỹ, nham nhở dây nhợ bị triệt phá hoàn toàn. Ngành điện cho kéo đường dây mới, lắp đặt cho mỗi phòng một công tơ điện tử riêng biệt, niêm phong chuẩn chỉ. Ánh sáng trong mỗi căn phòng dường như cũng rực rỡ hơn, ấm áp hơn. Chị Tôn Mỹ lần đầu tiên dám bật chiếc quạt sưởi nhỏ mua từ mùa đông năm ngoái mà không nơm nớp lo hóa đơn cắt cổ. Ông Chu Quốc phấn khởi mua thêm mấy chậu cây cảnh mới, đặt lên lan can, miệng cười khà khà: “Từ nay cái thân già này dám bật điều hòa ngủ trưa rồi.”
Mụ Vương Quế Hoa sau khi nôn sạch tiền nộp phạt và bồi thường, đã bị tước giấy phép kinh doanh nhà trọ. Căn nhà được giao lại cho một người cháu họ đứng ra quản lý hợp pháp, nhưng với điều kiện phải tuân thủ nghiêm ngặt mọi quy định về điện nước và giá cả. Mụ ta cuốn gói về quê ở với người em gái, dáng vẻ tiều tụy thảm hại, không còn nửa phần khí thế của bà chủ trọ ngang ngược ngày nào. Vương Hạo thì phải đối mặt với án tù treo vì tội đe dọa và cố ý gây thương tích, cộng thêm tiền án về hành vi trộm cắp điện – một vết nhơ tẩy không sạch khiến hắn hết đường ngóc đầu lên ở cái khu phố này.
Diệp Tử hoàn thành xuất sắc phóng sự điều tra mang tên “Cúp Điện Trầm Mặc”, được chễm chệ lên trang nhất báo thành phố và phát sóng giờ vàng trên đài truyền hình. Bài báo không chỉ lột mặt nạ vụ việc ở ngõ Văn Xương, mà còn châm ngòi cho một đợt tổng kiểm tra quét sạch các khu nhà trọ trên địa bàn, khiến vô số “bà Vương” khác phải rét run. Riêng tôi, sau khi bài báo gây bão, tôi nhận được hẳn ba lời mời phỏng vấn từ các tập đoàn công nghệ. Họ nói họ cực kỳ ấn tượng với bản lĩnh của tôi: cái đầu lạnh, tư duy logic và tinh thần không khoan nhượng trước cạm bẫy. Cuối cùng tôi chọn một công ty start-up về năng lượng sạch – một cú twist đầy mỉa mai và cũng ngập tràn hy vọng.
Ngày dọn đồ rời khỏi phòng 302, tôi đứng lặng một lúc lâu trước cánh cửa đã gắn bó bao tháng ngày chật vật. Căn phòng giờ đây trống trơn, chỉ còn lại tôi và những ký ức buồn tủi nay đã được thay thế bằng niềm tự hào kiêu hãnh. Tôi rút trong túi ra một tờ giấy note nhỏ, vung nét bút dạ đen sắc sảo, rồi dán ngay ngắn lên cánh cửa:
“Phòng 302 – Người thuê cũ: Lâm Tịch.
Giá điện: 0.5 tệ/số.
Tiền đã trao, thù đã báo.”
Tôi nhếch mép cười nhẹ, xách vali bước xuống cầu thang. Dưới sân, chị Tôn và ông Chu đã đợi sẵn. Chị Tôn dúi vào tay tôi một bộ chăn ga mới tinh, nói trong làn nước mắt: “Cô đi thượng lộ bình an nhé. Nhờ có đòn tẩy tủy của cô mà cuộc đời tôi mới ngóc đầu lên được.” Ông Chu thì nhét vào tay tôi một phong bao lì xì đỏ thắm: “Chút lộc mừng cháu có bến đỗ mới. Nhớ lời ông dặn, sau này dù làm lớn đến đâu, cái cốt cách sắt đá này tuyệt đối không được đánh mất.” Tôi cúi đầu cảm tạ hai người, cõi lòng ấm áp lạ thường. Hóa ra, từ trong bùn lầy, chúng tôi đã tự trui rèn thành một tấm khiên kiên cố, kề vai sát cánh đập nát giông bão.
Buổi chiều muộn, khi chiếc taxi chở tôi lướt khỏi con ngõ nhỏ, tôi ngoái đầu nhìn lại lần cuối. Ngọn đèn đường trước ngõ giờ đã được thay mới, tỏa ra thứ ánh sáng vàng rực rỡ, không còn leo lét ốm yếu như những đêm tôi từng âm thầm nuốt nghẹn vào trong. Tôi chợt nhận ra, bóng tối có bủa vây đến đâu, chỉ cần ta không tự chặt đứt đôi cánh của mình, không quỳ gối trước lũ cặn bã, thì sớm muộn gì bình minh cũng sẽ rạch nát màn đêm.
Tôi mở điện thoại, vào nhóm chat “Cúp Cầu Dao”, gõ một dòng tin nhắn chốt hạ: “Cầu dao đã ngắt. Bầu trời mới đã mở. Chào thân ái và quyết thắng.” Rồi tôi khóa màn hình, nhắm mắt lại, tận hưởng trọn vẹn hương vị của chiến thắng đang đón chờ phía trước.
Lời thề độc tôi từng khắc cốt ghi tâm, cuối cùng cũng được trả đủ không thiếu một cắc. Không cần bạo lực hạ cấp, không cần máu me dơ bẩn, vũ khí sát thương nhất chính là sự thật trần trụi và một cái đầu lạnh. Đó mới là đẳng cấp “vả mặt” thượng thừa, khiến kẻ cặn bã không chỉ tán gia bại sản, mà còn bị tước đoạt vĩnh viễn cái vương miện ảo tưởng chúng từng dùng để đạp lên đầu người khác. Và tôi tin chắc rằng, những ai từng nếm mật nằm gai, khi chứng kiến khoảnh khắc này, cũng sẽ tìm thấy cho mình một ngọn lửa hy vọng và một nụ cười sảng khoái, đúng như tôi của hiện tại.
